• 7_f00d58f14e
  • 3_6c73eeccbc
  • anh_phcn_6e0d6f1bce
  • 5_ad0dbe4da3
  • 2_dbe99c81e7
  • 1_9b725c4ca4
  • 8_8d9d8c9f0f
  • 4_c48a6a87ff
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

“THỜI ĐIỂM VÀNG” ĐỂ ĐIỀU TRỊ DI CHỨNG ĐỘT QUỴ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐÈ CẦN LƯU Ý

 Đột quỵ còn được gọi là tai biến mạch máu não. Đây là tình trạng não bộ bị tổn thương nghiêm trọng do quá trình cấp máu não bị gián đoạn hoặc giảm đáng kể khiến não bộ bị thiếu oxy không đủ dinh dưỡng để nuôi các tế bào. Trong vòng vài phút nếu không được cung cấp đủ máu các tế bào não sẽ bắt đầu chết.

Đột quỵ chia làm hai loại :

- Đột quỵ thiếu máu não

Đột quỵ thiếu máu não xảy ra khi có sự xuất hiện của một cục máu đông hoặc mảng xơ vữa trong mạch máu, làm tắc nghẽn dòng chảy của máu đến não. 

- Đột quỵ xuất huyết não

Đột quỵ xuất huyết não xảy ra khi một mạch máu trong não bị vỡ, máu chảy vào mô não và gây tổn thương các tế bào não. Nguyên nhân đột quỵ xuất huyết não chủ yếu là do tăng huyết áp và phình động mạch. Có hai loại đột quỵ xuất huyết não chính là:

+ Xuất huyết trong não: tình trạng chảy máu xảy ra bên trong não.

+ Xuất huyết dưới màng nhện: tình trạng chảy máu xảy ra trong không gian giữa não và màng nhện.

Tại Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Lạng Sơn số lượng người bệnh điều trị di chứng đột quỵ năm 2024 là 632/3326 lượt người bệnh chiếm tỷ lệ 19% (số liệu từ 01/01/2024-31/12/2024). Có người bệnh đến Bệnh viện phục hồi chức năng ngay sau phẫu thuật, ngay sau khi đột quỵ giai đoạn ổn định, cũng có những người bệnh đến Bệnh viện giai đoạn muộn bỏ qua thời điểm vàng cơ hội có thể phục hồi chức năng tối đa nhất.

Người bệnh đến điều trị di chứng đột quỵ tại Bệnh viện sẽ được các bác sỹ thăm khám kỹ lưỡng đánh giá toàn trạng, giai đoạn bệnh, mức độ tổn thương thần kinh, đánh giá cơ lực, các biến chứng… sau đột quỵ và đưa ra giải pháp can thiệp hiệu quả nhất bao gồm Vật lý trị liệu - Phục hồi chức năng kết hợp Y học cổ truyền.

 “Thời điểm vàng” phục hồi chức năng sau đột quỵ gồm

1. Giai đoạn cấp (0-24 giờ)

Tập trung vào việc ổn định tình trạng bệnh, phòng ngừa các biến chứng và bắt đầu các biện pháp phục hồi chức năng sớm nhất có thể.

2. Giai đoạn phục hồi sớm (24 giờ - 3 tháng)

Đây là giai đoạn quan trọng nhất, khi não bộ còn khả năng tái tạo và phục hồi các chức năng đã mất. Các phương pháp phục hồi chức năng như vật lý trị liệu, ngôn ngữ trị liệu, hoạt động trị liệu được áp dụng tích cực để giúp người bệnh lấy lại tối đa các kỹ năng vận động, giao tiếp và sinh hoạt hàng ngày.

3. Giai đoạn phục hồi muộn (3-6 tháng)

 Khả năng phục hồi có thể chậm lại, nhưng vẫn có thể đạt được những tiến bộ nhất định. Việc tiếp tục các phương pháp phục hồi chức năng, kết hợp với các biện pháp hỗ trợ khác như kích thích điện, xoa bóp trị liệu, điện châm, hoặc sử dụng thuốc có thể giúp người bệnh cải thiện khả năng vận động và các chức năng khác.

Qua thời điểm vàng người bệnh sẽ chuyển qua giai đoạn mạn tính (>6 tháng)

Giai đoạn này tập trung vào việc giúp người bệnh thích nghi với các hạn chế còn lại, duy trì và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Dù ở giai đoạn nào mức độ hồi phục nhanh hay chậm tùy từng người bệnh và  phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Mức độ tổn thương não, thời gian cấp cứu và can thiệp ban đầu, tuổi tác, sức khỏe, sự kiên trì, quyết tâm từ người bệnh và sự cổ vũ hỗ trợ từ người thân…

Một số lưu ý cho người bệnh điều trị di chứng đột quỵ:

- Người bệnh nên đến Bệnh viện và các cơ sở phục hồi chức năng sớm nhất có thể ngay sau khi đột quỵ ổn định hoặc ngay sau khi can thiệp phẫu thuật giai đoạn phục hồi để tranh thủ thời điểm vàng tập chung hồi phục

- Giai đoạn sức khỏe còn yếu chủ động tập thụ động tại giường, tập gồng cơ, vận động chi liệt, tập thở, tập nuốt cải thiện bên liệt để mau chóng giải quyết rối loạn nuốt, biến chứng loét do tì đè, biến chứng viên phổi do ứ đọng, tự chủ trong đại tiểu tiện…

- Bản thân người bệnh phải kiên trì và nỗ lực, khi tự mình có thể làm được không phụ thuộc vào người thân, cố gắng hoạt động nhiều nhất tay chân bị liệt, tuân thủ phác đồ điều trị của bác sỹ và phối hợp các kỹ thuật y trong các bài tập phục hồi

- Tăng cường dinh dưỡng và nâng cao thể trạng, từ bỏ những thói quen không có lợi như uống trà, hút thuốc, ăn mặn, uống rượu bia…

- Đề phòng các vẫn đề mất an toàn khi rối loạn cảm giác chi liệt như ngã, bỏng, loét do tì đè. Đề phòng các nguyên nhân như kiểm soát huyết áp, tiểu đường, mỡ máu, tim mạch… các bệnh mạn tính, tránh nóng lạnh đột ngột gây co giãn mạch có thể làm người bệnh đột quỵ thứ phát

- Các vấn đề về chỉnh bước đi, cố định vai bằng đai để tránh sệ bên vai, lệch vai liệt, xoa bóp cân bằng cơ mặt cải thiện vấn đề khó nói, khó nuốt, chảy rãi, mắt nhắm không kín, khô mắt, nói ngọng…

- Trường hợp người bệnh sau thời gian điều trị lâu dài, đến giai đoạn mạn tính người bệnh học cách thích nghi và có kế hoạch cho tương lai để hòa nhập cộng đồng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bản thân.

                                        Hỉnh ảnh: Người nhà hướng dẫn người bệnh điều trị di chứng đột quỵ tự cài khuy áo

Tác giả: Lý Thị Duyên , Khoa VLTL-HĐTL, Bệnh viện PHCN

Biên tập: BS Hoàng Quyết Thắng,Khoa VLTL-HĐTL, Bệnh viện PHCN


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Tin nổi bật
Đánh giá của khách hàng
Quý khách hàng đánh giá thế nào về dịch vụ y tế của chúng tôi?
Liên kết website